Trong nhiều trường hợp, chúng ta không biết trước một đối tượng có hỗ trợ một giao diện đưa ra. Ví dụ, giả sử chúng ta có một tập hợp những đối tượng Document, một vài đối tượng đã được lưu trữ và số còn lại thì chưa. Và giả sử chúng ta đã thêm giao diện giao diện thứ hai, Icompressible cho những đối tượng để nén dữ liệu và truyền qua mail nhanh chóng: | |
Gán đối tượng cho một giao diện Trong nhiều trường hợp, chúng ta không biết trước một đối tượng có hỗ trợ một giao diện đưa ra. Ví dụ, giả sử chúng ta có một tập hợp những đối tượng Document, một vài đối tượng đã được lưu trữ và số còn lại thì chưa. Và giả sử chúng ta đã thêm giao diện giao diện thứ hai, Icompressible cho những đối tượng để nén dữ liệu và truyền qua mail nhanh chóng: Nếu đưa ra một kiểu Document, và ta cũng không biết là lớp này có hỗ trợ giao diện Istorable hayIcompressible hoặc cả hai. Ta có thể có đoạn chương trình sau: Nếu Document chỉ thực thi giao diện Istorable: phép gán cho Icompressible vẫn được biên dịch bởi vì Icompressible là một giao diện hợp lệ. Tuy nhiên, do phép gán không hợp lệ nên khi chương trình chạy thì sẽ tạo ra một ngoại lệ (exception): Toán tử is Chúng ta muốn kiểm tra một đối tượng xem nó có hỗ trợ giao diện, để sau đó thực hiện các phương thức tương ứng. Trong ngôn ngữ C# có hai cách để thực hiện điều này. Phương pháp đầu tiên là sử dụng toán tửis. Cú pháp của toán tử is là: Toán tử is trả về giá trị true nếu biểu thức thường là kiểu tham chiếu có thể được gán an toàn đến kiểu dữ liệu cần kiểm tra mà không phát sinh ra bất cứ ngoại lệ nào. Ví dụ 8.3 minh họa việc sử dụng toán tử is để kiểm tra Document có thực thi giao diện Istorable hay Icompressible. Ví dụ 8.3: Sử dụng toán tử is. Trong ví dụ 8.3, hàm Main() lúc này sẽ thực hiện việc gán với interface khi được kiểm tra hợp lệ. Việc kiểm tra này được thực hiện bởi câu lệnh if: Biểu thức điều kiện sẽ trả về giá trị true và phép gán sẽ được thực hiện khi đối tượng có thực thi giao diện bên phải của toán tử is. Tuy nhiên, việc sử dụng toán tử is đưa ra một việc không có hiệu quả. Để hiểu được điều này, chúng ta xem đoạn chương trình được biên dịch ra mã IL. Ở đây sẽ có một ngoại lệ nhỏ, các dòng bên dưới là sử dụng hệ thập lục phân: Điều quan trọng xảy ra là khi phép kiểm tra Icompressible ở dòng 23. Từ khóa isinst là mã MSIL tương ứng với toán tử is. Nếu việc kiểm tra đối tượng (doc) đúng kiểu của kiểu bên phải. Thì chương trình sẽ chuyển đến dòng lệnh 2b để thực hiện tiếp và castclass được gọi. Điều không may là castcall cũng kiểm tra kiểu của đối tượng. Do đó việc kiểm tra sẽ được thực hiện hai lần. Giải pháp hiệu quả hơn là việc sử dụng toán tử as. Toán tử as Toán tử as kết hợp toán tử is và phép gán bằng cách đầu tiên kiểm tra hợp lệ phép gán (kiểm tra toán tửis trả về true) rồi sau đó phép gán được thực hiện. Nếu phép gán không hợp lệ (khi phép gán trả về giá trịfalse), thì toán tử as trả về giá trị null. Ghi chú: Từ khóa null thể hiện một tham chiếu không tham chiếu đến đâu cả (null reference). Đối tượng có giá trị null tức là không tham chiếu đến bất kỳ đối tượng nào. Sử dụng toán tử as để loại bỏ việc thực hiện các xử lý ngoại lệ. Đồng thời cũng né tránh việc thực hiện kiểm tra dư thừa hai lần. Do vậy, việc sử dụng tối ưu của phép gán cho giao diện là sử dụng as. Cú pháp sử dụng toán tử as như sau: Đoạn chương trình sau thay thế việc sử dụng toán tử is bằng toán tử as và sau đó thực hiện việc kiểm tra xem giao diện được gán có null hay không: Ta có thể so sánh đoạn mã IL sau với đoạn mã IL sử dụng toán tử is trước sẽ thấy đoạn mã sau có nhiều hiệu quả hơn: Ghi chú: Nếu mục đích của chúng ta là kiểm tra một đối tượng có hỗ trợ một giao diện và sau đó là thực hiện việc gán cho một giao diện, thì cách tốt nhất là sử dụng toán tử as là hiệu quả nhất. Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ muốn kiểm tra kiểu dữ liệu và không thực hiện phép gán ngay lúc đó. Có lẽ chúng ta chỉ muốn thực hiện việc kiểm tra nhưng không thực hiện việc gán, đơn giản là chúng ta muốn thêm nó vào danh sách nếu chúng thực sự là một giao diện. Trong trường hợp này, sử dụng toán tử is là cách lựa chọn tốt nhất. Hết phần 3 |
Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2013
Thực thi giao diện – Phần 3
Related Posts:
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)

0 nhận xét:
Đăng nhận xét